Luật tương trợ tư pháp mới nhất hiện nay

Văn Bản Pháp Luật

Luật tương trợ tư pháp hiện hành là văn bản số 08/2007/QH12 được ban hành vào ngày 21 tháng 11 năm 2007. Sau đây hãy cùng Blog Luật Việt tìm hiểu Luật tương trợ tư pháp mới nhất hiện nay nhé.

LUẬT TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa (tại Việt Nam) năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;
Quốc hội ban hành Luật tương trợ tư pháp.

Chương 1:

NHỮNG QUY ĐỊNH CHUNG

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định nguyên tắc, thẩm quyền, trình tự, thủ tục thực hiện tương trợ tư pháp về dân sự, hình sự, dẫn độ và chuyển giao người đang chấp hành hình phạt tù giữa (tại Việt Nam) với nước ngoài; trách nhiệm của các cơ quan nhà nước (tại Việt Nam) trong tương trợ tư pháp.

Điều 2. Đối tượng áp dụng

Luật này áp dụng đối với cơ quan, tổ chức, cá nhân (tại Việt Nam), cơ quan, tổ chức, cá nhân nước ngoài có liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp với (tại Việt Nam).

Điều 3. Áp dụng pháp luật

1. Tương trợ tư pháp được thực hiện theo quy định của Luật này; trường hợp Luật này không quy định thì áp dụng quy định của pháp luật tố tụng dân sự, pháp luật tố tụng hình sự và các quy định khác của pháp luật (tại Việt Nam) có liên quan.

2. Việc áp dụng pháp luật nước ngoài chỉ được thực hiện theo quy định của điều ước quốc tế mà (tại Việt Nam) là thành viên.

Điều 4. Nguyên tắc tương trợ tư pháp

1. Tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau, bình đẳng và các bên cùng có lợi, phù hợp với Hiến pháp, pháp luật của (tại Việt Nam) và điều ước quốc tế mà (tại Việt Nam) là thành viên.

2. Trường hợp giữa (tại Việt Nam) và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện trên nguyên tắc có đi có lại nhưng không trái pháp luật (tại Việt Nam), phù hợp với pháp luật và tập quán quốc tế.

Điều 5. Ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp

1. Trường hợp giữa (tại Việt Nam) và nước ngoài đã có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì ngôn ngữ trong tương trợ tư pháp là ngôn ngữ được quy định trong điều ước quốc tế đó.

2. Trường hợp giữa (tại Việt Nam) và nước ngoài chưa có điều ước quốc tế về tương trợ tư pháp thì hồ sơ phải kèm theo bản dịch ra ngôn ngữ của nước được yêu cầu tương trợ tư pháp hoặc dịch ra một ngôn ngữ khác mà nước được yêu cầu chấp nhận.

3. Cơ quan lập hồ sơ yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp phải dịch hồ sơ ra ngôn ngữ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này.

Điều 6. Uỷ thác tư pháp và hình thức thực hiện tương trợ tư pháp

1. Uỷ thác tư pháp là yêu cầu bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài về việc thực hiện một hoặc một số hoạt động tương trợ tư pháp theo quy định của pháp luật nước có liên quan hoặc điều ước quốc tế mà (tại Việt Nam) là thành viên.

2. Tương trợ tư pháp được thực hiện trên cơ sở yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) hoặc cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông qua ủy thác tư pháp.

Điều 7. Hợp pháp hóa lãnh sự và việc công nhận giấy tờ, tài liệu ủy thác tư pháp

1. Hợp pháp hóa lãnh sự là việc Bộ Ngoại giao, cơ quan đại diện ngoại giao, cơ quan lãnh sự của (tại Việt Nam) hoặc cơ quan khác ở nước ngoài được ủy quyền thực hiện chức năng lãnh sự chứng nhận chữ ký, con dấu trên giấy tờ, tài liệu do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận để sử dụng ở (tại Việt Nam).

2. Giấy tờ, tài liệu ủy thác tư pháp do cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài lập, cấp hoặc xác nhận theo quy định của pháp luật nước ngoài được cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) công nhận, nếu giấy tờ, tài liệu đó đã được hợp pháp hoá lãnh sự.

Điều 8. Triệu tập và bảo vệ người làm chứng, người giám định

1. Trong quá trình tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng có thẩm quyền có thể triệu tập người làm chứng, người giám định theo quy định của Luật này và điều ước quốc tế mà (tại Việt Nam) là thành viên.

2. Trong giấy triệu tập phải ghi rõ điều kiện làm chứng, giám định và cam kết về việc bảo đảm an toàn tính mạng, sức khỏe, điều kiện ăn ở, đi lại cho người làm chứng, người giám định.

3. Người làm chứng, người giám định được tạo điều kiện thuận lợi trong nhập cảnh, xuất cảnh theo quy định của pháp luật (tại Việt Nam).

4. Người làm chứng, người giám định được triệu tập đến (tại Việt Nam) không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử vì những hành vi sau đây trước khi đến (tại Việt Nam):

a) Cung cấp lời khai làm chứng, bản kết luận chuyên môn đối với vụ án mà người đó được triệu tập;

b) Phạm tội ở (tại Việt Nam);

c) Có quan hệ với đối tượng đang bị điều tra, truy tố, xét xử về hình sự tại (tại Việt Nam);

d) Có liên quan đến vụ việc dân sự hoặc hành chính khác tại (tại Việt Nam).

5. Quyền không bị bắt, bị tạm giam, tạm giữ hoặc bị điều tra, truy tố, xét xử của người làm chứng, người giám định quy định tại khoản 4 Điều này chấm dứt nếu người đó không rời (tại Việt Nam) sau thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được thông báo bằng văn bản của cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) về việc không cần thiết sự có mặt của họ tại (tại Việt Nam). Thời hạn này không tính vào thời gian mà người làm chứng, người giám định không thể rời (tại Việt Nam) vì lý do bất khả kháng.

Điều 9. Việc giao nhận tài liệu, đồ vật và tiền

Việc giao nhận tài liệu, đồ vật và tiền liên quan đến hoạt động tương trợ tư pháp được thực hiện theo quy định của pháp luật (tại Việt Nam).

Chương 2:

TƯƠNG TRỢ TƯ PHÁP VỀ DÂN SỰ

Điều 10. Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự

Phạm vi tương trợ tư pháp về dân sự giữa (tại Việt Nam) và nước ngoài bao gồm:

1. Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu liên quan đến tương trợ tư pháp về dân sự;

2. Triệu tập người làm chứng, người giám định;

3. Thu thập, cung cấp chứng cứ;

4. Các yêu cầu tương trợ tư pháp khác về dân sự.

Điều 11. Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự

1. Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự phải có các văn bản sau đây:

a) Văn bản của cơ quan có thẩm quyền yêu cầu tương trợ tư pháp về dân sự;

b) Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự quy định tại Điều 12 của Luật này;

c) Giấy tờ khác theo yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền của nước được ủy thác.

2. Hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự được lập thành ba bộ theo quy định của Luật này và phù hợp với pháp luật của nước được ủy thác. Ngôn ngữ được sử dụng để lập hồ sơ theo quy định tại Điều 5 của Luật này.

Điều 12. Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự

Văn bản ủy thác tư pháp về dân sự phải có các nội dung sau đây:

1. Ngày, tháng, năm và địa điểm lập văn bản;

2. Tên, địa chỉ cơ quan ủy thác tư pháp;

3. Tên, địa chỉ cơ quan được ủy thác tư pháp;

4. Họ, tên, địa chỉ nơi thường trú hoặc nơi làm việc của cá nhân; tên đầy đủ, địa chỉ hoặc văn phòng chính của cơ quan, tổ chức có liên quan trực tiếp đến ủy thác tư pháp;

5. Nội dung công việc được ủy thác tư pháp về dân sự phải nêu rõ mục đích ủy thác, công việc và các tình tiết liên quan, trích dẫn điều luật có thể áp dụng, các biện pháp để thực hiện ủy thác và thời hạn thực hiện ủy thác.

Điều 13. Yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự

1. Cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) trong quá trình giải quyết các vụ việc dân sự có thể yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thực hiện tương trợ tư pháp trong các trường hợp sau đây:

a) Tống đạt giấy tờ, hồ sơ, tài liệu cho người đang ở nước được yêu cầu;

b) Triệu tập người làm chứng, người giám định đang ở nước được yêu cầu;

c) Thu thập, cung cấp chứng cứ ở nước được yêu cầu để giải quyết vụ việc dân sự tại (tại Việt Nam);

d) Các trường hợp khác theo quy định của pháp luật (tại Việt Nam).

2. Yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự phải được lập thành văn bản dưới hình thức ủy thác tư pháp về dân sự theo quy định của Luật này.

Điều 14. Thủ tục yêu cầu nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự

1. Cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) yêu cầu cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài tương trợ tư pháp về dân sự phải lập hồ sơ ủy thác theo quy định tại Điều 11 của Luật này và gửi cho Bộ Tư pháp.

2. Trong thời hạn mười ngày làm việc, kể từ ngày nhận được hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự, Bộ Tư pháp vào sổ ủy thác tư pháp, kiểm tra tính hợp lệ của hồ sơ và chuyển cho cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài theo quy định của điều ước quốc tế mà (tại Việt Nam) và nước ngoài là thành viên hoặc thông qua kênh ngoại giao. Trường hợp hồ sơ không hợp lệ thì Bộ Tư pháp trả lại cho cơ quan đã lập hồ sơ và nêu rõ lý do.

3. Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản của cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài thông báo kết quả thực hiện ủy thác tư pháp, Bộ Tư pháp chuyển văn bản đó cho cơ quan có thẩm quyền của (tại Việt Nam) đã gửi hồ sơ ủy thác tư pháp về dân sự.

Trên đây là văn bản Luật tương trợ tư pháp mới nhất hiện nay. Cảm ơn các bạn đã theo dõi bài viết.

Tham khảo thêm:

Luật Hóa chất 2007

Bài viết liên quan